Sunday, January 30, 2011

Đưa Fair Trade lên vùng núi cao


Trong bài viết trước, tôi đã nói về cách tiếp cận của Vie và Basil Reyes nhằm địa phương hóa Fair Trade theo từng bước. Tôi rất thích thú muốn tìm hiểu về công việc của họ, nên chúng tôi đã đi lên vùng núi cao phía Bắc của Philippine để gặp gỡ đối tác của họ, cũng như tận mắt chứng kiến các máy rang cà phê đang được vận hành ở địa phương. Những gì tôi thấy đã chứng thực cho quá trình địa phương hóa mà họ đã kể với tôi khi chúng tôi gặp nhau.

Chou và tôi đi chuyến xe buýt đêm mất 9 tiếng mới tới Bauaue, một trong bảy kỳ quan hiện đại của thế giới, chỉ cách thị trấn Lagawe thuộc tỉnh Ifugao một giờ lái xe trên con đường uốn lượn của vùng núi, do vậy tôi đã có cơ hội được ngắm cảnh đẹp thiên nhiên trong lúc tiến hành cuộc khảo sát nghiên cứu của tôi. Bên cạnh đó, chuyến đi này là hoàn toàn tự túc cho nên tôi có thể tự đặt lịch trình cho mình… Tận dụng điều này, tôi đã sắp xếp lịch làm việc sau đó một ngày.

Ở Lagawe, tôi gặp Cha Valentin và Cha Marion, các cha xứ của giáo xứ địa phương thuộc dòng Thiên chúa giáo La mã. Tôi đã rất ấn tượng với những gì họ đang làm và cách mà họ thành lập một HTX của nông dân địa phương, HTX CoRDI, vừa ám chỉ rặng núi Cordillera, vừa có nghĩa là Học viện Nghiên cứu và Phát triển Cà phê (Coffee Research and Development Institute). Chúng tôi gặp mặt ở một quán cà phê ở KAPEHAN, một quán nhỏ nằm giữa khuôn viên của nhà thờ và trường học. Cha Valentin có bằng thạc sỹ về Quản lý Phát triển, và là người thành lập Trung tâm Phát triển và Hành động Xã hội (Social Action and Development Center) hoạt động bên ngoài giáo xứ. Ngay khi vừa gặp ông, tôi biết ngay rằng đây không phải là một cha xứ bình thường!

Ông kể cho tôi nghe những hoạt động của ông với cộng đồng ở địa phương: “Năm 2001, tôi tham gia quảng bá về Nhân Quyền bằng cách tiến hành đào tạo về Đạo luật Nhân Quyền… Tôi cũng tham gia đào tạo về môi trường và quản lý các dự án của chính phủ bởi vì chúng tôi đang xúc tiến một phương cách quản lý tốt đẹp hơn. Sau này, chúng tôi cũng đào tạo về chính trị, đặc biệt là trong các kỳ bầu cử. Chúng tôi cố gắng giải thích cho mọi người hiểu sự đỡ đầu cho hoạt động chính trị có ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt là theo hướng phát triển.”

Giống như nhiều nước trên thế giới, sự đỡ đầu cho hoạt động chính trị là gót chân Achilles của dân chủ. Cha Valentin giải thích: “Các chính trị gia điều hành văn phòng, nhưng rất tốn kém, vậy ai sẽ ủng hộ họ? Các nhà thầu, các con bạc… Ở văn phòng, các chính trị gia sẽ quyết định phát triển các dự án dựa trên nhu cầu của các nhà thầu. Chúng tôi gọi đó là các “dự án nước ép” (juicy projects) bởi vì thay vì giải quyết các nhu cầu của người dân, họ chỉ quan tâm tới lợi ích tài chính của các nhà thầu khoán.”

Tôi có thể hiểu được về sự quan tâm của cha xứ Thiên chúa giáo khi xúc tiến một phương cách quản lý tốt đẹp hơn, nhưng tôi rất tò mò về sự liên quan giữa Trung tâm Phát triển và Hành động Xã hội với việc sản xuất cà phê. Ông đã chia sẻ câu chuyện về việc đào tạo môi trường cho những người dân sống ở vùng núi cao trong rặng núi Cordillera: “Họ biến đất rừng thành vườn trồng rau. Tất nhiên chúng tôi đã hỏi họ vì sao lại làm vậy. Họ nói rằng bởi vì họ muốn tồn tại. Chúng tôi hỏi họ cái gì có thể thay thế được, tất nhiên chúng tôi tiếp cận theo khía cạnh tôn giáo và tín ngưỡng. Chúng tôi nói: ‘Hãy nhìn xem, Chúa đã sáng tạo ra vạn vật, và Chúa đã tạo ra mọi thứ để chúng ta có thể sống được. Bây giờ chúng ta lại phá hủy nó.’ Họ trả lời: ‘Thế thì chúng tôi sống bằng cách nào? Chúng tôi có các nhu cầu về thực phẩm, giáo dục và sức khỏe cho bọn trẻ.’ Tôi bảo họ liệt kê ra những nguồn tài nguyên hiện có và họ kể tên vài loại hoa quả và cà phê. Đối với hoa quả, chúng tôi thuyết phục họ tham gia khóa học ở Santa Fe về cách thu hoạch hoa quả, cách làm mứt, nước ép trái cây và hoa quả khô. Họ trở về và họ đã rất thành công. Chúng tôi nghĩ rằng họ đã thành công, vậy chúng tôi sẽ giới thiệu họ với một nguồn thu nhập khác nữa, và chúng tôi đến với cà phê.”

Tôi rất cảm động! Tôi đã nói chuyện với một cha xứ thực sự hiểu được các nhu cầu của giáo dân của ông. Thông thường người dân ở vùng này chỉ cần một héc ta đất để nuôi sống gia đình, và cha Valentin đã hỏi tại sao họ lại cần thêm đất và phá hủy rừng. “Tôi thấy những người giàu, những nhà tư bản, tới đây và cấp vốn cho họ. Họ hỏi ‘Các bạn có rừng không?’ Người nông dân sẽ trả lời là có. ‘Bạn có muốn biến rừng thành vườn trồng rau không?’ Người nông dân lại trả lời có. ‘Vậy thì hãy đốn cây xuống’ và sau đó họ trở lại với các máy móc để san phẳng mảnh đất. Rồi họ nói ‘Đây là tiền mua hạt trồng rau và các nguyên liệu khác như thuốc trừ sâu và phân bón’. Đến kỳ thu hoạch, nhà tư bản sẽ nói: ‘Tôi sẽ đưa xe tải tới đây để mang rau của bạn tới điểm giao thương’. Và sau cùng, họ nói: ‘Đây là số tiền còn lại cho bạn’. Đó chỉ là một khoản thu nhập rất nhỏ của người nông dân trong 4 tháng làm việc. Người nông dân hiểu rằng 1 héc ta đất là không đủ bởi vì số tiền thu được quá ít.

Câu hỏi của tôi là; tại sao anh nghe thấy giá của một cân bắp cải ở Manila khoảng 30 đến 40 Pecos, thậm chí 60 Pecos, nhưng ở đây tại những điểm giao thương địa phương chỉ có từ 5 đến 10 Pecos. Sự chênh lệnh này quá lớn. Vậy nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu người nông dân nói 1 héc ta đất là không đủ và họ phải khai phá đất rừng thêm và thêm nữa.”

Tiếp theo cha xứ nói về vai trò của một nghiệp đoàn trong việc thâu tóm các điểm giao thương ở địa phương và vận chuyển rau trồng từ vùng núi về Manila. Chúng tôi cũng đề cập tới các giải pháp khả thi thay thế, chẳng hạn như dự án về mứt hay hoa quả sấy khô. Những sản phẩm này được bán ở cửa hàng Good Sheppard Sisters ở Baguio, thành phố gần nhất nằm giữa Manila và Lagawe. “Cửa hàng này đang cố gắng giúp đỡ nông dân và những người sản xuất thức ăn hữu cơ. Good Sheppard Sisters là một đại lý. Có rất nhiều sản phẩm thực phẩm bày bán ở đó, và một trong số đó là cà phê Ifugao Kape.”

Với máy rang cà phê từ Bote Central, các cha xứ đã thiết lập 2 nhãn hiệu cà phê do HTX CoRDI sản xuất. Nhãn hiệu Lagawe Blends do HTX sản xuất và bán ở địa phương tại KAPEHAN. Ifugao Kape là nhãn hiệu của cà phê Trung tâm Phát triển và Hành động Xã hội, và thị trường cho loại cà phê chất lượng cao này lan sang cả các tỉnh lân cận. Trong cuộc thảo luận, họ thừa nhận về nhu cầu mở rộng thị trường. Chou và tôi quyết định rằng chúng tôi có thể giúp đỡ được một việc, đó là mua 10 gói cà phê Ifugao và giới thiệu chúng với những người mua tiềm năng mà chúng tôi có dịp gặp gỡ trong chuyến đi.

Khi chúng tôi trở lại Banaue, chúng tôi ngồi nói chuyện với những chủ nhân của 2 nhà nghỉ đã được giới thiệu trong sách Lonely Planet - quyển sách hướng dẫn du lịch nổi tiếng có sức ảnh hưởng lớn tới khách du lịch trên toàn thế giới. Cả hai đều ủng hộ ý tưởng của chúng tôi, họ mua và quảng bá cà phê được trồng và được sản xuất tại tỉnh lân cận. Chúng tôi thậm chí còn làm phép tính về số lượng thìa cà phê cho mỗi ly cà phê. Nếu bán một ly cà phê pha với giá 35 Pecos (khoảng 0.8$), họ có thể kiếm được 500 Pecos lợi nhuận ròng cho mỗi gói. Phải thừa nhận rằng những người chủ khách sạn hơi bỡ ngỡ khi họ được 1 cặp khách du lịch bụi bặm mang tới cho và giới thiệu về loại cà phê được sản xuất tại địa điểm cách họ có một tiếng lái xe, nhưng chúng tôi thì thấy rất vui. Chúng tôi cho đi tất cả 10 gói cà phê trên đường đi về hướng Nam với các thông tin để họ có thể liên lạc với cha Valentin.

Trong 2 ngày chúng tôi ở lại giáo xứ, các cha xứ cũng chia sẻ với chúng tôi về hoạt động của HTX, giá hạt cà phê Robusta và Arabica trả cho những người nông dân, lợi nhuận thu được, các hạn chế và thách thức mà họ phải đối mặt kể từ ngày thành lập khoảng hơn một năm rưới trước đây, và những lý do để họ triển khai dự án này. Cha Marion nói: “Trồng cà phê ở Lagawe để kinh doanh được bắt đầu từ những năm 50, nhiều năm trước khi bất kỳ một loại máy rang xay nào được giới thiệu ở đây.”

Người Philippine thực hiện chiến dịch “Mỗi thị trấn Một sản phẩm” để khuyến khích phát triển vùng nông thôn. Chiến dịch “Mỗi thị trấn Một sản phẩm” ở Lagawe được thiết kế bởi một nhóm do Sharon Grace phụ trách. “May mắn là khi ông thị trưởng mới được bầu, ông ấy đã đến hỏi tôi rằng Mỗi thị trấn Một sản phẩm ở Lagawe nên là cái gì? Ông ấy muốn thay đổi và làm chổi quét nhà, nhưng tôi đã thuyết phục ông ấy ở lại với cà phê. Những người lãnh đạo mới luôn luôn muốn thay đổi mọi thứ, để làm một dấu ấn của riêng mình trong cộng đồng.” Cha Marion nói thêm: “Ông ấy đã không thay đổi, và còn tiến hành chương trình một cách có chiến lược hơn. Thị trưởng Cabbigat của Lagawe và phụ tá của ông đề xuất một hướng đi mới cho chiến dịch Mỗi thị trấn Một sản phẩm, đó là tập trung sản xuất cà phê hỗn hợp Arabiaca, nói ngắn gọn là Hỗn hợp Arabica Lagawe (Lagawe Arabica Blends)… Hơn nữa, việc trở thành đối tác của Phòng Thương mại và Công nghiệp, và với Công ty Năng lượng SN Aboitiz, dự án cà phê Lagawe đã hình thành rõ nét. Cà phê hỗn hợp Lagawe trở thành nhãn hiệu cà phê hàng đầu ở Ifugao. Một nhãn hiệu khác là Terraces Brew do HTX Unique sản xuất cũng được đưa ra thị trường cùng một khoảng thời gian và chủ yếu được bán ở Banaue, Ifugao.”

Dưới sự dẫn dắt của Sharon, chính quyền địa phương đã đi đầu trong việc phát triển hoạt động kinh doanh cà phê Lagawe, lập ra một mức giá tối thiểu để trả cho những người nông dân trồng hạt cà phê chất lượng cao. Cha Marion giải thích: “Tới thời điểm phải biến nó thành một hoạt động kinh doanh, chính quyền phải thành lập một HTX, hoặc là phải thu hút các nhà đầu tư vào dự án Mỗi thị trấn Một sản phẩm. Vì vậy chúng tôi đã quyết định thành lập HTX. Hiện nay chúng tôi có 71 thành viên.”

Mặc dù giá của cà phê Arabica đắt gấp 2 lần mỗi kilogram, nông dân thường có 2 đến 3 cây cà phê Robusta trong vườn của họ, được để lại từ thời thịnh vượng của cà phê Philippine, lúc đó còn là nước xuất khẩu cà phê thứ hai trên thế giới. Để làm sống dậy những cây cà phê này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, nhưng đó lại là nguồn tài nguyên sẵn có. Hơn nữa, nông dân của HTX CoRDI cũng đang trồng Arabica với sự quan tâm chăm sóc cẩn thận nhằm đạt được yêu cầu về vấn đề trồng cây hữu cơ.

Cha Marion giải thích rằng HTX CoRDI đã phải chấp nhận một vài điều kiện của chính quyền địa phương nhằm tiếp quản doanh nghiệp. Một trong số đó là phải duy trì giá của hạt cà phê xanh. “Năm ngoái, nông dân đã rất ngạc nhiên khi họ thấy chúng tôi tới trực tiếp mua cà phê của họ. Chính quyền địa phương trả 100 Pecos cho 1 kilogram Robusta trong khi Nestle trả có 65 Pecos. Họ đã rất ngạc nhiên, nhưng đó là toàn bộ lợi tức của họ. Chính quyền địa phương đã đặt ra mức giá này và chúng tôi phải tôn trọng tất cả nội dung của dự án cũng như mức giá đó.”

Một yêu cầu nữa là chúng tôi phải duy trì nỗ lực tái trồng rừng. Sau khi chuyện trò, họ dẫn chúng tôi đi tham quan khu đất xung quanh. Đi ngang qua khu vườn ươm trên đường tới thăm quan căn phòng để máy rang cà phê ở phía sau của nhà thờ, cha Valentin nói: “Chúng tôi đã ươm hơn 20,000 cây giống cà phê Arabica và phân phát cho nông dân nếu họ có yêu cầu.” Tái trồng rừng với cây cà phê Arabica quả thật là một ý tưởng tuyệt vời! Mất 3 năm để trồng một cây cà phê, như vậy trong vài năm tới sẽ có rất nhiều cây Arabica cho ra quả ở vùng rừng Tinoc gần đó. Cha Marion nói thêm vào: “Ở Lagawe, hơn 50,000 cây giống Arabica được phân phát và trồng trong năm 2009 đã chết trong đợt hạn hán năm 2010.” Bất chấp nhiều khó khăn, tôi nhận thấy tham vọng của họ xa hơn nhiều chiến lược marketing hiện thời, nhưng trong khi làm những công việc của Chúa, tôi nghĩ rằng họ sẽ có lợi thế trong việc triển khai dự án cà phê Fair Trade.

Trong khi tìm hiểu về các khó khăn thách thức và chức năng hoạt động của HTX, tôi hỏi họ về Fair Trade. Mới biết đến khái niệm này, cha Marion thú nhận với tôi rằng ông vẫn đang trong quá trình học hỏi các nguyên tắc của Fair Trade bằng việc đưa ra một mức giá công bằng cho người nông dân. Trong khoảng thời gian làm việc ở đây, cuộc khảo sát của tôi với HTX CoRDI trở thành một cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng năng lực. Tôi đã dành nhiều giờ nói chuyện với cha Marion khi ông ân cần dẫn tôi đi tham quan khu vực xung quanh để gặp gỡ với những người nông dân, và mời tôi đi cùng với ông và Sharon trong chuyến đi mua hạt cà phê ở một ngôi làng gần Sagada, cách Lagawe vài giờ lái xe.

Với những người quan tâm tới chuyến đi mua hạt cà phê, xin hãy xem trang facebook của tôi vì Chou đã đưa rất nhiều ảnh của chuyến đi lên đó. Và cũng xin hãy tự nhiên kết bạn với tôi ở đó, tôi luôn sẵn lòng gặp gỡ với những người quan tâm và đọc blog của tôi.

Cha Marion đã tổng kết sứ mệnh của CoRDI như sau: “Chúng tôi đang làm việc để thiết lập một ngành công nghiệp cà phê thực thụ ở Lagawe, thuộc tỉnh Ifugao và vùng Cordillera, cộng tác với những tổ chức cùng chia sẻ với chúng tôi tầm nhìn và ý tưởng rằng cà phê có thể là một nguồn nguyên liệu bền vững để trồng trọt; và những tư tưởng chung đó có thể được nhìn bằng vô số thấu kính hay từ nhiều góc độ… như doanh nghiệp, nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái…”

Trong thời gian tôi ở Lagawe và Sagada, tôi đã bắt đầu hiểu rõ hơn vì lý do vì sao Vie và Basil Reyes muốn giới thiệu Fair Trade theo từng bước và có thể mất từ 2 đến 3 năm tùy vào mỗi cộng đồng.

Nói “Fair Trade là Sự thay đổi Xã hội” là một cách nói giảm nhẹ đi!

Ở địa phương, Fair Trade thách thức rất nhiều vấn đề: khái niệm kinh doanh thông thường; vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội và trong tổ chức; sự tham gia của trẻ em trong các hoạt động của gia đình; vai trò quản lý tổ chức và các vị trí tham gia của các thành viên/người sản xuất; cách thức làm việc với các tổ chức đối tác cũng như cung ứng. Fair Trade là một người thay đổi cuộc chơi. Không có gì còn lại giống như trước sau khi đã áp dụng khái niệm Fair Trade vào mô hình kinh doanh.

Đối với Bote Central, việc giới thiệu Fair Trade trước hết bằng cách hỗ trợ công nghệ cho các đối tác địa phương vốn phụ thuộc 100% vào kinh tế địa phương là một cách hết sức thiết thực và hữu ích. Cách làm của họ không gì hơn là sự cam kết vào việc khởi động cho một sự thay đổi xã hội tại mỗi cộng đồng mà họ làm việc cùng. Gặp gỡ với các đối tác, tôi đã tận mắt chứng kiến các thách thức khó khăn và các vấn đề xã hội mà họ phải đối mặt. Tôi cũng hiểu rõ được giá trị của việc địa phương hóa Fair Trade.

Tôi tin rằng Vie và Basil đang khởi động Fair Trade theo một hướng đi cần thiết cho tương lai nếu đó là một sự nỗ lực bền vững. Phụ thuộc hoàn toàn vào thương mại với các nước phương Tây đã cho thấy sự không bền vững. Suy nghĩ về các bài học từ cuộc khủng hoảng toàn cầu, tôi tin rằng mọi người sẽ tập trung hơn vào phát triển Fair Trade ở các cộng đồng địa phương. Các cửa hàng, đại lý sẽ được ủng hộ bởi kinh tế địa phương. Tôi không chủ trương kết thúc thương mại với các nước phương Tây, nhưng tôi muốn đưa Fair Trade vào trong hoạt động kinh doanh như là một mô hình phù hợp ở địa phương. Nhằm đa dạng hóa các thị trường.

Khi giới thiệu Fair Trade với cộng đồng, cách tốt nhất là đưa ra các hỗ trợ thực tế và các hướng dẫn hòa nhập đơn giản. Fair Trade trong hành động quan trọng hơn là trong lời nói.

Hãy tưởng tượng điều này:

Hạt cà phê của địa phương, chế biến ở địa phương, rang ở địa phương, bán ở địa phương, và tiêu thụ ở địa phương, tất cả đều đóng góp cho nền kinh tế địa phương.

Không xuất khẩu một hạt cà phê nào, Fair Trade được địa phương hóa!

Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng tôi trong cuộc hành trình này. Xin hãy tự nhiên đóng góp ý kiến, ý tưởng và các lời khuyên cho chúng tôi!

Thân ái,

Mitch Teberg, MA

Saturday, January 22, 2011

Sản xuất cà phê bền vững

Cuối năm 2006, tôi có dịp gặp một “Chuyên gia Phát triển” người Nhật Bản. Ông ta làm việc với một nhóm người dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên Việt Nam, họ đang trồng một giống cây mới để xuất khẩu sang Nhật Bản, như là một giải pháp để giảm đói nghèo. Không xa lạ gì với vùng rừng núi này, tôi hỏi ông: “Việc trồng cây này có mang lại sự gia tăng mức dinh dưỡng cho trẻ em nơi đây không?” Cái nhìn trống rỗng trên khuôn mặt ông đã trả lời cho tất cả, họ đang trồng cây để thu hoa lợi xuất khẩu sang Nhật Bản. Dự án này không tính đến việc nâng cao sức khỏe thể chất của người dân hay việc tiêu thụ ở địa phương mặc dù giống cây có giá trị dinh dưỡng cao. Và dự án cũng không tính đến việc phát triển các thị trường ở địa phương đối với giống cây có giá trị gia tăng cao mà lại sẵn có và giá cả chấp nhận được với người dân, nó có thể nâng cao mức dinh dưỡng cho toàn bộ cộng đồng.

Khi dòng tiền chảy vào túi những người nông dân có mức sống chỉ vừa đủ sống, họ sẽ dùng nguồn thu nhập mới này để mua cái gì? Thôi, ông ấy không hề biết và cũng chẳng quan tâm đâu. Những người nông dân có mức sống chỉ vừa đủ sống này, đơn giản là họ cần tiền để mua hàng hóa ở chợ, chỉ vậy thôi. Đó là cách nghĩ của trường đại học mà ông ấy đã tốt nghiệp, trường đại học kinh tế vốn không quan tâm tới tình trạng văn hóa xã hội ở địa phương cũng như thiếu vắng hẳn yếu tố nhân văn.

Cũng như với Chuyên gia Phát triển, cách tốt nhất để phô ra yếu điểm là chúng ta đặt ra các câu hỏi liên quan ở mức nhận thức của họ mà thôi.

Các dạng câu hỏi tương tự cũng được đặt ra với Fair Trade. Trong chuyến khảo sát của tôi ở vùng núi phía Bắc của Philippine, tôi đã suy nghĩ về việc phát triển các thị trường ở địa phương với các sản phẩm do địa phương sản xuất theo cách có lợi cả về văn hóa và xã hội. Tôi không ngừng tự hỏi: “Làm cách nào để Fair Trade được hòa nhập nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng ở địa phương nhiều hơn là thông qua thương mại với các nước phương Tây?”

Nói một cách vắn tắt và đơn giản nhất, tôi tự hỏi: “Làm cách nào để có thể địa phương hóa Fair Trade?”

Basil và Vie Reyes cũng đã từng đưa ra câu hỏi này. Họ là sáng lập viên của Bote Central và khởi đầu một thương hiệu cà phê Philippine, Coffee Alamid. Với những nỗ lực của họ, họ đang biến Fair Trade thành một khái niệm địa phương trên khắp đất nước Philippine, nhưng không phải bằng cách thức truyền thống. Câu hỏi cơ bản của họ thậm chí còn hướng trực tiếp hơn vào bối cảnh địa phương: “Làm thế nào để sản xuất cà phê bền vững?”

Vie kể cho tôi một chút về lịch sử: “Philippine từng là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ tư trên thế giới. Sau đó rất nhiều nước cùng nhảy vào và cà phê Philippine đã bị loại ra. Nông dân Philippine bắt đầu cắt bỏ cây cà phê bởi vì giá bán quá thấp. Bây giờ chúng tôi lại phải nhập khẩu cà phê. Nông dân không thích trồng cà phê, mà thích trồng rau và các giống hoa màu khác. Do vậy lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng nông dân cần giúp đỡ để trồng cà phê. Nhưng chúng tôi đã nhầm. Nó không mang lại sự bền vững.”

Với mong muốn chân thành làm giảm đói nghèo ở những vùng nông thôn, họ đã tạo ra sự hứng thú mới làm sống lại cây cà phê vốn đã bị bỏ hoang tại một số cộng đồng nhất định. Chỉ mất 3 năm để một cây cà phê bắt đầu ra quả, do vậy những cây bị bỏ hoang từ thời hoàng kim của cà phê Philippine rất cần phải được khôi phục lại một lần nữa như là một nguồn tài nguyên trực tiếp sẵn có. Nhưng chỉ đơn thuần bán hạt cà phê ở trên thị trường sẽ không mang lại nhiều hiệu quả trong việc loại bỏ đói nghèo.

Đây là giải pháp mà một người ủng hộ Fair Trade sẽ mỉm cười và nghĩ về bản thân mình: “Phát triển cộng đồng thông qua việc thành lập một HTX Fair Trade!” Đúng vậy, nhưng Vie và Basil còn đi xa hơn nữa. Phải thừa nhận rằng cách tiếp cận của họ thật là độc đáo và đáng nhớ, họ không mảy may quan tâm tới các thị trường quốc tế hay nhãn hiệu Fair Trade.

Vie giải thích: “Chúng tôi không dùng tới Fair Trade hay mạng lưới Fair Trade, chưa thôi. Đây không phải là cách làm việc cần thiết của chúng tôi với những người sản xuất bởi vì chúng quá phức tạp đối với họ. Ở đây chỉ có một vài người trồng cà phê hiểu được Fair Trade thôi.” Thay vì tập trung vào các nguyên tắc của Fair Trade một cách lý thuyết, họ muốn phát triển các thị trường địa phương với sự phản ánh của Fair Trade trong hành động hơn là lời nói. Vie nói rằng đây là một quá trình từ từ. Bước đầu tiên là phải xác định và làm việc cùng với một cộng đồng mà sẽ có được lợi ích từ cách thức tiếp cận của họ.

“Điều mà chúng tôi đang làm với các cộng đồng là chúng tôi muốn họ có một chu trình làm việc trọn vẹn. Basil là một nhà sáng chế, vì vậy tôi nói với anh ấy là hãy làm ra một cái máy rang cà phê, để mỗi cộng đồng họ có thể tự rang cà phê của họ. Đây là cách mà người nông dân có thể tự sản xuất cà phê của mình. Do vậy anh ấy đã thiết kế một loại máy sử dụng nguyên lý xoắn, được lập trình sẵn, hoàn toàn tự động, rất dễ dàng sử dụng, và được dùng để rang cà phê. Và điều chúng tôi đã làm là đưa nó tới với người nông dân để họ có thể tự sản xuất cà phê của chính mình. Họ làm nên nhãn hiệu cà phê của riêng họ và bán chúng ở địa phương nơi họ ở, và đơn giản nhất thì họ có thể uống cà phê của mình mà không cần phải đi mua cà phê tan.”

Basil nói thêm vào: “Chúng tôi đưa ra một phương tiện để rang cà phê giúp cho người nông dân có thể tự rang cà phê của họ, bởi vì ở Philippine, các phương tiện rang cà phê thường nằm trong tay các tập đoàn lớn như Nestle. Do đó tôi thiết kế máy rang cà phê cho họ. Đây là cách dễ nhất để giải quyết vấn đề!

Chủ yếu tôi làm các máy rang cà phê để cho người nông dân có thể tăng thêm thu nhập, họ phải làm ra các sản phẩm có giá trị gia tăng. Cách tốt nhất để làm tăng giá trị là tự rang cà phê của mình. Nông dân không cần những loại máy móc mà họ chẳng hiểu gì cả. Họ chỉ bấm nút, cái máy tự động làm tất cả, chỉ vậy thôi. Bạn không thể dạy họ nghệ thuật rang cà phê hay sự tinh thông về rang và sấy. Do vậy tôi thiết kế một loại máy rang hiện đang được sử dụng trên khắp đất nước, đang được chạy kiểm nghiệm, và đồng thời chúng cũng đang kiếm ra tiền. Nông dân có thể tự rang hạt cà phê của họ, chẳng hạn như ở Sagada… Trong một vài trường hợp, chúng tôi điều chỉnh loại máy này từ chạy bằng điện sang chạy bằng gas bởi vì ở vùng nông thôn, điện lưới không được ổn định cho lắm.”

Tại sao đây lại là một cuộc cách mạng và rất đáng được ghi nhớ? Trước hết, hơn 50% cà phê tiêu thụ ở Philippine là cà phê nhập khẩu, và chủ yếu dưới dạng cà phê tan của Nestle. Thật đáng ngạc nhiên, cà phê tan chiếm thị trường khoảng 10 tỷ Pecos một năm (khoảng hơn 226 triệu USD), và nguồn tài chính này chảy vào két bạc của một tập đoàn đa quốc gia không mang lại sự bền vững. Quả là điều đáng buồn khi một tập đoàn đa quốc gia chiếm lĩnh thị trường của bạn và còn làm thay đổi văn hóa cà phê của cả một nền công nghiệp truyền thống vốn rang hạt cà phê một cách từ từ bằng lửa và pha cà phê bằng cách ngâm bột cà phê trong một túi lọc. Chẳng phải nói tập đoàn này cũng ủng hộ các chính sách thương mại tự do quốc tế của GATT và WTO, vốn xóa sạch những người nông dân trồng cà phê trên khắp đất nước bằng cách cạnh tranh sản xuất cà phê rẻ nhất từng có tại các nước nghèo nhất trong các nước nghèo. Trong cuộc đua giảm giá tới đáy, người Philippine đã đánh mất vị trí của mình trong những năm 80.

Gia đình Reyes đối mặt với cuộc chiến trên ba mặt trận, thứ nhất là khuyến khích ngành công nghiệp trồng cà phê; thứ hai là giành lại định nghĩa về cà phê từ các tập đoàn đa quốc gia; thứ ba la giới thiệu về Fair Trade ở các thị trường địa phương. Nó bao gồm cả việc tạo ra ý thức về quyền sở hữu của người nông dân đối với sản phẩm của họ và việc thuyết phục các cộng đồng tiêu thụ sản phẩm của chính họ.

“Do vậy, chúng tôi đang đẩy mạnh Fair Trade ở thị trường Philippine tới người dân. Khi chúng tôi nghĩ về xuất khẩu, chúng tôi cho rằng thị trường nội địa tốt hơn… chúng tôi đang cố gắng quảng bá Fair Trade: Hãy uống cà phê Philippine. Đó là điểm khởi đầu của tôi. Vấn đề là người dân ở đây không quen với cà phê của chúng tôi. Họ muốn uống cà phê nhập khẩu vì họ cho rằng chúng ngon hơn. Chúng tôi đang cố gắng thay đổi viễn cảnh của cà phê Philippine. Làm cách mạng. Đây là cách mà chúng tôi quảng bá Fair Trade. Không cần thiết phải nói về Fair Trade, đó là việc của các tổ chức Fair Trade… Chúng tôi chỉ áp dụng tinh thần của Fair Trade. Chúng tôi muốn thị trường hiểu Fair Trade là cái gì, thị trường nội địa. Không cần phải nói Fair Trade, Fair Trade, Fair Trade, mà là hành động. Là tính chất bên trong của Fair Trade. Đó là cách chúng tôi đang hoạt động, không phải là một công việc đao to búa lớn. Nếu bạn giải thích cho họ về Fair Trade, họ sẽ chẳng hiểu gì đâu. Các nguyên tắc của Fair Trade chỉ là lời nói. Còn có những thứ khác cho những người sống ở miền núi để họ sống một cuộc sống tốt đẹp hơn nếu cho họ một phương tiện sinh sống và kế sinh nhai.”

Để triển khai tinh thần này của Fair Trade, cặp đôi Reyes nói về việc xây dựng các mối quan hệ và thời kỳ tạo dựng quan hệ trong đó họ giới thiệu về các nguyên tắc của Fair Trade một cách hết sức từ từ.

Theo như những gì tôi hiểu về Basil và Vie, đây sẽ lại là một cách làm hết sức lôi cuốn. Tôi đã học được rất nhiều điều, nhưng lắng nghe một người kể chuyện chân thật như Basil quả là một kinh nghiệm tuyệt vời. Tôi bảo ảnh kể cho tôi nghe về quá trình đó và anh mở lời: “Rất dễ dàng để trở thành một thương gia. Nhưng để xây dựng một tình bạn thì khó hơn nhiều. Tôi thích có nhiều bạn ở vùng núi, nhưng đó là một câu chuyện khác. Mỗi khi lên núi, tôi thường ở lại đó 2 đến 3 ngày. Đôi khi tôi tới đó chỉ để nghỉ ngơi. Anh biết đấy, không làm việc, chỉ dành thời gian với mọi người ở đó thôi, hưởng thụ không khí trong lành thay vì sự hối hả và ồn ào của thành thị. Tôi rất dễ hòa đồng với họ.

Phải mất từ 2 tới 3 năm để phá bỏ ngăn cách xã hội. Tôi trở thành một phần của cộng đồng, mức độ tin tưởng và mức độ tự tin đã đủ để trở thành bạn bè. Đầu tiên họ nghĩ rằng tôi cũng giống như những người mua khác cho đến khi tôi trở thành bạn của họ, sau đó thì mọi thứ thay đổi.

Như vậy những người này cần một khoảng thời gian để họ mở lòng. Chúng tôi đang thiết lập mối quan hệ, và đối với những người này thì cần nhiều thời gian hơn, không giống như trong kinh doanh, chỉ cần cho tôi xem tiền và hàng hóa của anh. Ở đây chúng tôi có mối quan hệ tốt đẹp. Chúng tôi không làm hợp đồng. Chúng tôi nhìn vào mắt họ, bắt tay họ, và hy vọng vào điều tốt đẹp nhất. Điều này dựa trên niềm tin và sự liêm chính, đó chính là giá trị của Fair Trade.

Điều quan trọng nhất là mối quan hệ. Đó là ý tưởng, để sản xuất cà phê bền vững.”

Với tôi, thành công gồm có 2 mặt. Thứ nhất, tôi có thêm bạn hữu, và thứ hai tôi có thể mua hàng bất cứ lúc nào. Tôi thích leo núi và đó cũng là một động lực ích kỷ cá nhân của tôi. Tôi thích không gian mở ngoài trời. Tôi có thể đến những nơi mà người khác không thể bởi vì bạn tôi ở đó. Ở những chỗ đó có hang động và thác nước. Tôi thích tất cả những điều này.

Khi tôi còn trẻ, tôi thường đi leo núi và tận hưởng thiên nhiên. Có lẽ mọi thứ bắt đầu từ đó. Tôi đã kết bạn với người bản địa. Đó là nơi duy nhất bạn tới mà người dân nghèo nàn, bẩn thỉu, chẳng có tiền ngoài vài thứ lặt vặt trong căn lều. Họ đun nước sôi cho tôi uống, rồi đào đường mà họ đựng trong một cái can và chôn xuống đất để khỏi bị lấy trộm, sau đó chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Đó là lý do mà tôi thích lên núi.

Basil dẫn chứng một vài thí dụ về các mối quan hệ mà anh đã xây dựng trên khắp đất nước và những lợi ích mà anh có được. “Sagada là nơi cà phê đắt nhất Philippine bởi vì mọi người đều tự rang cà phê của mình, bạn không thể mua hạt cà phê xanh ở đó. Họ sẽ không chịu bán đâu bởi vì họ kiếm được nhiều tiền hơn bằng việc tự rang cà phê. Nhưng tôi thì mua được hạt cà phê bởi vì tôi chính là người đã khởi đầu mọi thứ ở đó. Tôi đã kết bạn và xây dựng các mối quan hệ.

Ở Lagawe (thị trấn gần cạnh Sagada), có một HTX có nhãn hiệu cà phê của riêng họ và họ cũng có máy rang cà phê. Họ tự điều hành hoạt động kinh doanh. Ý tưởng ở đây là sẽ có một cộng đồng Starbucks nhỏ. Chúng ta có thể nhìn thấy những dấu hiệu thành công, một chút thành công.

Ở Sagada bạn sẽ thấy ít cà phê tan ở trong các cửa hàng hơn, và nhiều cà phê pha hơn, chủ yếu là nhãn hiệu cà phê của chính họ. Nếu bạn tới đó, bạn không thể mua hạt cà phê xanh bởi vì họ kiếm được nhiều tiền hơn bằng việc bán sản phẩm hoàn thiện. Nông dân kiếm tiền ở thị trường nội địa nhiều hơn là họ xuất khẩu hạt cà phê thô.

Ở Jolo ở miền Nam thì hơi nguy hiểm. Tôi cá là anh đã từng nghe về chủ nghĩa cực đoan ở đó. Nơi đây nông dân tổ chức thành nhóm, họ thiết lập các phương tiện sản xuất, họ yêu cầu được giúp đỡ và họ trả tiền cho máy rang cà phê. Bây giờ họ đang điều hành doanh nghiệp của mình và họ còn đang muốn mua thêm một máy rang cà phê nữa. Trong những vùng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, họ vẫn có niềm hy vọng dành cho phụ nữ và trẻ em. Họ không chỉ trao đổi súng đạn và vũ khí, mà họ còn mua bán cà phê. Chúng tôi đang khởi đầu một phong trào hòa bình thông qua cà phê.

Vie kết luận một cách cô đọng: “Khi chúng tôi làm việc với người trồng cà phê, chúng tôi dạy họ cách làm ra sản phẩm cuối cùng và bán cho cộng đồng ở địa phương. Chi phí đầu tư sẽ được trả lại dần dần cho chúng tôi. Chúng tôi có một hệ thống mà các cộng đồng hay những người sản xuất đều phải công khai minh bạch, nếu không thì họ chẳng cẩn thận, họ không nhìn nhận vấn đề như là một công cụ của chính họ. Tạo ra ý thức về quyền sở hữu, tính công khai minh bạch là cách thức để vận hành một công việc kinh doanh.”

Gặp gỡ với Vie và Basil thật là hữu ích vì họ đã cung cấp rất nhiều thông tin, và tôi phải tự tìm hiểu thêm thực tế! Tôi quyết định đi tới vùng núi cao để thăm HTX ở Lagawe và cửa hàng cà phê của chính họ, và tận mắt nhìn thấy máy rang cà phê ở Sagada. Những nghiên cứu của tôi sẽ được công bố trong tương lai không xa, nhưng tôi xin đảm bảo rằng cà phê ở đây ngon tuyệt!

Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng tôi trong cuộc hành trình này. Xin hãy tự nhiên đóng góp ý kiến, ý tưởng và các lời khuyên cho chúng tôi!

Thân ái,

Mitch Teberg, MA

Friday, January 14, 2011

Phát triển các thị trường nội địa

Theo sau sự suy thoái toàn cầu, một bài học trở nên rõ ràng đối với các nước đang phát triển là: Đừng có chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu tới các nước phát triển!!! Nói chung, càng phụ thuộc nhiều vào thương mại với các nước phát triển thì mức ảnh hưởng của “Cuộc suy thoái khủng khiếp” càng mạnh mẽ, như cách mà tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) đã gọi tên cuộc khủng hoảng này. Đối với người nghèo ở các nước phát triển cũng như các nước nghèo, sự ảnh hưởng này lại càng trực tiếp và hậu quả vẫn tiếp tục được nhận thấy trong những hàng dài người thất nghiệp đi xin việc làm, và trong các hộ gia đình của những người bán thất nghiệp.

Từ lâu rồi, trong các phòng đàm phán thương mại, người ta tin rằng thương mại với các nước phát triển sẽ cứu sống bạn. Điều giả định ảo tưởng này trở nên rõ ràng một cách đau đớn khi các quốc gia phương Tây giảm tối đa lượng nhập khẩu từ các nước đang phát triển mà họ hứa hẹn trong nỗ lực cứu vãn nền kinh tế của chính mình. Thậm chí là các tổ chức xã hội tới từ phương Tây cũng cắt giảm sự hỗ trợ của họ, nhiều tổ chức Phi chính phủ (NGOs) và các tổ chức nhân đạo đã cắt giảm nguồn viện trợ cho các chương trình và các dự án phát triển ở địa phương. Trong nhiều trường hợp, các dự án này bị dừng lại hoặc bị hủy bỏ. Đây thật là thế giới của những lời hứa sáo rỗng. Cảm ơn đã chơi trò chơi này và chúc may mắn lần sau!

Sự thật khắc nghiệt này cũng phản ảnh trong kênh thị trường Fair Trade. Sự thay đổi tổng thể là thước đo sự ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu. Càng phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang các nước phương Tây, sự ảnh hưởng càng nặng nề tới các nhóm sản xuất Fair Trade ở các nước đang phát triển. Hoạt động Fair Trade ở Philippine đã sớm nhận ra một bài học vô cùng quan trọng.

Những năm gần đây đã có sự nỗ lực chung để liên kết các tổ chức Fair Trade theo từng khu vực và quốc gia. Tổ chức Fair Trade Thế giới (WFTO) có trụ sở ở Hà Lan đã thành lập các mạng lưới khu vực nhằm mở rộng sự ảnh hưởng của họ và liên kết các tổ chức Fair Trade có cùng chung mục tiêu.

Châu Phi: COFTA
Châu Á: WFTO-Asia
Châu Mỹ Latinh: WFTO-LA
Châu Âu: WFTO-Europe
Thái bình dương: WFTO-Pacific

Tổ chức Fair Trade Thế giới ở Châu Á (WFTO Châu Á) làm việc với các mạng lưới chính thức và không chính thức ở Bangladesh, Trung Quốc, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Nepan, Pakistan, Philippine, Sri Lanka, Thái Lan, Đông Timo và Việt Nam. “WFTO Châu Á hoạt động như là một diễn đàn, nơi mà các tổ chức thành viên chia sẻ với nhau các chiến lược đặc thù theo tính chất khu vực hay tính chất văn hóa, liên quan tới sự phát triển tổ chức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ và truy cập kho thông tin. WFTO Châu Á phải hoàn thành sứ mệnh là tiếng nói của Fair Trade ở châu Á, bằng cách tuyên truyền các tiêu chuẩn và các nguyên tắc của Fair Trade cho các đối tượng hay tổ chức khác nhau tại các vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị. Nó hoạt động nhằm lôi kéo người sản xuất, công nhân, người cung cấp dịch vụ, người trung gian, các tổ chức công, và người tiêu dùng vào quá trình mang lại công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong hệ thống thương mại toàn cầu.”

Ở Philippine, phong trào Fair Trade hoạt động dưới ngọn cờ của WFTO-Philippine và đang dần dần điều chỉnh chiến lược quốc gia của họ. Rút ra từ các bài học của “Cuộc suy thoái khủng khiếp”, đó là: Không nên chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu sang các nước phương Tây!!!

Không quan trọng là Phong trao Fair Trade ở phương Tây đã có những dự định tốt đẹp như thế nào, khi phải đối mặt với suy thoái, chắc chắn sẽ có sự sụt giảm lượng nhập khẩu từ các nước phát triển cả ở kênh thương mại chủ đạo và kênh thương mại khác. Với lý do đó, điều quan trọng là các tổ chức Fair Trade ở các nước đang phát triển rút ra được một bài học có giá trị và mở rộng các thị trường ở địa phương và khu vực của họ trong khi dựa dẫm ít hơn vào lời hứa và các dự định của phương Tây.

Phong trào Fair Trade ở Philippines

Việc tìm hiểu phong trào Fair Trade ở Philippine của tôi bắt đầu bằng cuộc gặp mặt với Ronald Lagazo, giám đốc của tổ chức WFTO-Philippine, có ba mươi tổ chức thành viên. Tôi hỏi anh về những nỗ lực gần đây nhằm mở rộng sự tiếp cận thị trường nội địa cho các nhóm sản xuất thông qua việc mở ra các cửa hàng Fair Trade mà tôi đã được nghe nhắc tới rất nhiều lần.


“Các cửa hàng Fair Trade được điều hành bởi các thành viên, chẳng hạn như Saffy đang được quản lý bởi SUFRUDI ở Santa Ana, Manila; SPFTC (Các đối tác phía Nam và Tập đoàn Fair Trade) ở Cebu; Giấy thủ công Salay ở Cagayan De Oro, Mindanao (hòn đảo chính ở phía Nam). Hiện nay họ đang hỗ trợ cho các thành viên của WFTO Philippine. Chúng tôi mua các sản phẩm của họ và bầy hàng hóa trong các cửa hàng, đây là con đường dẫn tới thị trường nội địa cho một số thành viên của chúng tôi. Một số thành viên ở vùng Luzon, nhưng họ cung cấp sản phẩm tới vùng Mindanao hoặc Cebu, đây là một cơ hội cho họ.”

Hiện nay có mười ba cửa hàng được điều hành bởi các tổ chức Fair Trade, bốn cửa hàng mới là một phần của chiến lược phát triển Fair Trade vào các thị trường nội địa. Ronald giải thích: “APFTI (Tổ chức Hỗ trợ Fair Trade Philippine) là một tổ chức phi lợi nhuận, nhận được nguồn vốn tài trợ dành cho sáng kiến này. Một ý tưởng tuyệt hay là mở tiệm bán cà phê trong các cửa hàng Fair Trade, gần giống như kiểu tiệm deli-café. Hiện nay các đối tác không có nhiều tiền hoặc nhiều nguồn tài trợ, nên họ không thể thuê một không gian rộng rãi để làm tiệm cà phê. Do vậy, trước hết họ bắt đầu bằng các cửa hàng bán lẻ, nhưng tôi nghĩ rằng họ rất muốn thực hiện ý tưởng kia. Các nhà tài trợ rất ấn tượng với các nỗ lực của họ để mở ra các cửa hàng Fair Trade. Chúng tôi đã rút ra được rất nhiều bài học từ sáng kiến này.

Cửa hàng Fair Trade ở Cebu khá là thành công. Trên các tờ báo địa phương, họ có đăng khá đều đặn bài viết về cửa hàng của họ. Người ta đăng các tin chính về hoạt động của họ. Một vài người trong giới truyền thông tới và mua hàng hóa, có thể nói họ có quan hệ khá tốt với giới truyền thông. Họ đã làm rất nhiều việc trong công tác quảng bá. Gigi Labradores đang làm hết sức mình để gặp gỡ mọi người và giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng. Bà mở rộng mạng lưới quan hệ với rất nhiều người và nhiều tổ chức ở địa phương.”

Cùng với việc mở ra một chuỗi các cửa hàng Fair Trade, WFTO-Philippine đã thiết lập một bộ tiêu chuẩn Fair Trade quốc gia để trở thành tổ chức Fair Trade thành viên. “Năm ngoái chúng tôi đã hoàn thành việc thiết lập các yêu cầu cần thiết đối với các tổ chức Fair Trade Philippine, chúng tôi đã có thêm 7 thành viên xin gia nhập… năm 2009 chủ yếu là một năm tự đánh giá và xây dựng.”

Hơn nữa, WFTO-Philippine còn thiết lập nhãn hiệu riêng của họ. Ronald Lagazo nói: “Chúng tôi nhận được những ý kiến đánh giá rất tốt từ cộng đồng quốc tế đối với hệ thống chứng chỉ nhãn hiệu Philippine. Nhãn hiệu FLO quá đắt và khó tiếp cận đối với những người sản xuất nhỏ, phí xin gia nhập quá đắt. Nhãn hiệu này có ý nghĩa đối với thị trường Philippine. Nếu nó đi ra thị trường quốc tế và được chấp nhận, đó là điều tốt với chúng tôi, nhưng chúng tôi chưa bao giờ có ý định đưa nó ra đấu trường quốc tế. Ban đầu, một vài thành viên lo lắng về việc thiết lập thêm một nhãn hiệu khác, nhưng ở thị trường nội địa thì nhãn hiệu này làm nên sự khác biệt giữa chúng tôi và các doanh nghiệp khác. Không sao cả nếu đưa thêm một logo vào các nhãn hiệu.”

Trong khi nói chuyện với Ronald về việc phát triển các thị trường ở địa phương, anh cũng đã nhắc tới Bote Centre như là một “trường hợp thú vị”, nhưng những điều mà tôi khám phá ra sau này có thể nói là còn độc đáo hơn, thậm chí là một sự cách mạng trong cách tiếp cận của họ! Các nỗ lực của họ rất trực tiếp, và nhìn bề ngoài họ có vẻ rất hiệu quả, nên tôi quyết định sẽ tìm hiểu họ cặn kẽ hơn. Hiện tại tôi đang ở vùng núi tuyệt đẹp của Philippine để tìm hiểu về Bote Centre và cách tiếp cận của họ để phát triển Fair Trade ở các thị trường địa phương. Do vậy, tôi sẽ để các bạn trở lại với bài viết tiếp theo của tôi, nhưng một điều tôi đảm bảo với các bạn rằng đây sẽ là một nghiên cứu đầy hấp dẫn và chúng ta có thể học tập rất nhiều từ đó!

Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng tôi trong chuyến đi này. Xin hãy tự nhiên đóng góp ý kiến, ý tưởng và các lời khuyên cho chúng tôi.

Thân ái,
Mitch Teberg, MA

Monday, January 3, 2011

Âm thanh của sự im lặng

Khi năm 2010 sắp kết thúc và thế giới đang đón chào buổi bình minh của một thập kỷ mới cũng là lúc tôi trầm tư suy ngẫm về cuộc hành trình của mình. Tôi suy nghĩ về mục đích của chuyến đi, như tôi đã đề cập đến trong blog, đó là: “đưa ra tiếng nói của những người sản xuất Fair Trade, thợ thủ công, thợ dệt vải, nông dân, nghệ nhân”. Cụ thể hơn, tôi tự hỏi mình nên làm gì với những kết quả nghiên cứu gần đây.

Tôi tự hỏi: “Tôi nên làm gì khi tôi đi để lắng nghe tiếng nói của những người sản xuất Fair Trade, nhưng tiếng nói lại không có ở đó?”. “Không có ở đó” không có nghĩa là người sản xuất không muốn chia sẻ suy nghĩ của họ về Fair Trade, cũng không phải là những giây phút khó khăn trong vấn đề phiên dịch khi mà người sản xuất và người phỏng vấn nhìn nhau đầy bối rối. Ngược lại với điều này, những người thợ thủ công mà tôi gặp đều sẵn sàng chia sẻ với tôi các câu chuyện và kinh nghiệm của họ. Thực tế là một nửa trong số họ đã tình nguyện chia sẻ với tôi các câu chuyện về cuộc sống của họ. Sự thiếu vắng mà tôi suy ngẫm ở đây có hàm ý sâu hơn và không dễ dàng trình bày ở bề mặt.

Trong quá trình tìm hiểu, tôi phải tự hỏi: “Điều gì xảy ra vậy, khi mà chẳng phải do lỗi của họ, những người mà bạn đến để lắng nghe tiếng nói của họ lại chẳng hề có câu trả lời bởi vì họ chẳng biết bạn đang hỏi về cái gì?”


Lúc mới bắt đầu Cuộc hành trình vì Fair Trade này, tôi có email trao đổi với Rodney North, thuộc tổ chức Trao đổi Bình đẳng (Equal Exchange). Trong hơn hai thập kỷ qua, tổ chức này đã nâng cao năng lực của nông dân và những người sản xuất thông qua mua bán công bằng các sản phẩm cà phê, chè, chuối, và sô cô la. Liên quan tới cuộc hành trình của tôi, ông ấy đã chia sẻ kinh nghiệm: “đúng là trong 24 năm hoạt động cùng Fair Trade, chúng tôi nhận thấy rằng những người nông dân là thành viên của các HTX xuất khẩu cà phê, chè hay đường thường có rất ít hiểu biết về Fair Trade, và điều này là hợp lý nếu xem xét kỹ vấn đề. Ngược lại thì các nhân viên chuyên môn của các HTX này (những người quản lý, nhân viên được trả lương giám sát quá trình sản xuất, thị trường, xuất khẩu, hoặc người quản lý chất lượng sản phẩm có mối liên hệ thường xuyên với nhà nhập khẩu nước ngoài) thường hiểu biết về Fair Trade nhiều hơn (cũng như hiểu biết về các chứng nhận khác mà HTX của họ tham gia – Liên minh rừng mưa nhiệt đới (Rainforest Alliance), Utz, Đối tác chè tiêu chuẩn (Ethical Tea Parnership)…

Sự hiểu biết của các thành viên HTX thấp hơn khi HTX của họ chỉ bán một tỷ lệ nhỏ sản phẩm cho người mua Fair Trade, và sự hiểu biết này thường cao hơn nếu như HTX bán nhiều hơn cho người mua Fair Trade. Các nhân tố ảnh hưởng khác có thể là khoảng thời gian mà HTX đã từng bán hàng trong kênh thị trường Fair Trade, sự khác biệt về giá cả mà những người mua Fair Trade chấp nhận, và mức độ trực tiếp mà các thành viên HTX làm việc với người mua Fair Trade. Ví dụ một HTX ở một địa điểm rất xa và khó tiếp cận, nông dân hoặc người sản xuất ở đó thường không có nhiều sự hiểu biết về Fair Trade.

Để nâng cao mức độ nhận thức về Fair Trade cho những người nông dân trồng cà phê ở Guatemala, những năm gần đây chúng tôi đã 2 lần trợ cấp cho một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức Cultural Survival, để sản xuất một chương trình phát thanh về Fair Trade (và cả các đề tài khác) bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau phát sóng từ hệ thống các trạm phát thanh có tần số thấp trên khắp đất nước. Theo như chúng tôi biết thì đây là một nỗ lực hiếm thấy.

Chú ý - hãy tìm hiểu cuốn sách “Nhân đạo hóa nền kinh tế: Các HTX trong thời kỳ tư bản” (Humanizing the Economy: Co-operatives in the Age of Capital) của tác giả John Restakis - trong này có một phần nói đến kinh nghiệm Fair Trade của tổ chức SOFA, một HTX trồng chè ở Sri Lanka.

Sự hiểu biết thực tế của Rodney cũng tương tự như những kinh nghiệm của tôi.Trong cuộc Hành trình vì Fair Trade năm 2005, tôi có phỏng vấn một người phụ nữ Burmese đang sống trong trại tị nạn tại biên giới Thái Lan - Burma. Tôi đã rất ngây thơ đặt câu hỏi: “Chị biết gì về Fair Trade và phát triển bền vững?”, chị ta thẳng thắn thừa nhận: “Tôi chẳng biết gì về Fair Trade cả, khi tôi bán một 100 Bath thì người ta mua 100 Bath, thế là công bằng”. Kể từ đó, tôi đã học được rằng nên nhìn vào các chỉ tiêu thực tế để đánh giá các tiêu chuẩn và mục tiêu của Fair Trade hơn là đặt các câu hỏi kiểu như: “Bạn có được nâng cao khả năng tự lực?”, hay là câu hỏi: “Bạn đã hòa nhập với cộng đồng?”

Rodney đã giải thích rõ ràng về sự chênh lệch hiểu biết về Fair Trade giữa những người sản xuất Fair Trade. Một điểm cực kỳ quan trọng mà ông đã trình bày, đó là: “những người quản lý, nhân viên được trả lương giám sát quá trình sản xuất, thị trường, xuất khẩu, hoặc người quản lý chất lượng sản phẩm có mối liên hệ thường xuyên với nhà nhập khẩu nước ngoài thường hiểu biết về Fair Trade nhiều hơn”. Điều này có nghĩa là họ có kiến thức trong công việc liên quan tới các tiêu chuẩn của Fair Trade.

Thực ra, ông đã xác định nhóm người đó có vai trò như là trục bánh xe nối liền giữa các tiêu chuẩn Fair Trade với thực trạng xã hội, chính trị, văn hóa của người sản xuất, thợ thủ công, thợ dệt vải, nông dân, nghệ nhân ở địa phương. Tập thể lãnh đạo của một tổ chức chính là phương tiện để triển khai các nguyên tắc của Fair Trade. Nếu không có họ và sự hiểu biết của họ thì không còn có sự kết hợp giữa các tiêu chuẩn của một tổ chức Fair Trade với thực tế cụ thể của tổ chức đó. Nói một cách thẳng thắn thì những người này gánh vác trách nhiệm trên vai nặng nề hơn bất cứ ai trong hoạt động của Fair Trade.

Làm thế nào để bạn kiểm tra được rằng họ đang chia sẻ kiến thức của mình, cũng như đang áp dụng các tiêu chuẩn của Fair Trade? Đây chính là điều mà tôi muốn thực hiện trong cuộc hành trình của mình - gặp gỡ với người sản xuất để tìm hiểu xem các tiêu chuẩn kia đang được nhìn nhận và được thực thi như thế nào ở địa phương. Nếu như người quản lý không minh bạch hoặc có sự phân biệt đối xử thì người sản xuất sẽ là những người đầu tiên biết được. Quan trọng nhất, điều mà tôi đang tìm hiểu chính là ý nghĩa của các tiêu chuẩn Fair Trade đã được hiểu và được áp dụng như thế nào ở địa phương. Tôi có thể tìm ra câu trả lời được phản ánh trong cuộc sống thường ngày của họ, các kinh nghiệm làm việc trong tổ chức và trong cộng đồng mà người sản xuất đang gắn bó.

Có rất nhiều điều thú vị khi tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này… Tôi nhận thấy rằng xuất phát điểm của một tổ chức có thể có ảnh hưởng dài lâu tới hoạt động của họ và và gắn chặt với các tiêu chuẩn khi mới thành lập. Có hai xuất phát điểm đối với các tổ chức Fair Trade. Chú ý rằng thuật ngữ tổ chức Fair Trade (FTO) được hiểu là tất cả các tổ chức Fair Trade bất kể địa điểm hay chức năng hoạt động của họ - có thể là nhóm sản xuất ở các nước đang phát triển, hay cũng có thể là tổ chức bán lẻ ở các nước phát triển. Trong bài viết này, tôi dùng thuật ngữ tổ chức Fair Trade để chỉ các nhóm sản xuất ở các nước đang phát triển.

Tổ chức Fair Trade hoặc là được thành lập từ hoạt động của người dân địa phương với một chút xíu hoặc không có sự hỗ trợ từ bên ngoài; hoặc là được thành lập và phụ thuộc rất nhiều vào sự giúp đỡ của các tổ chức bên ngoài, chẳng hạn như một tổ chức phi chính phủ, một tổ chức tín ngưỡng, một cơ quan phát triển… Với tư cách là một người nghiên cứu, tôi đang tiến hành các đánh giá cần thiết đối với một tổ chức; và với tư cách là một nhà thiết kế, tôi đang trực tiếp sử dụng các tiêu chuẩn của Fair Trade như là một phương tiện khả thi để giải quyết các yêu cầu đánh giá nêu trên.

Tôi nhận thấy rằng các tổ chức Fair Trade địa phương đã nghiên cứu và có sự liên kết giữa mục tiêu của họ với các tiêu chuẩn của Fair Trade thường là những người ủng hộ mạnh mẽ và cam kết rất chặt chẽ. Một trường hợp điển hình ở đây là anh Lê Bình, người sáng lập của tổ chức Reaching Out ở Hội An - Việt Nam, đã áp dụng các nguyên tắc của Fair Trade trong cả chuỗi cung ứng nguyên vật liệu của anh.

Các tổ chức có sự hỗ trợ hoặc được thành lập bởi các tổ chức bên ngoài và được điều hành bởi những người phương Tây với mục tiêu rõ ràng, có nghĩa vụ phải truyền đạt các giá trị và các tiêu chuẩn mà họ ủng hộ tới những người sản xuất. Điều quan trọng nhất, họ cần phải truyền đạt thông qua các tấm gương hành động, cho thấy sự nhất quán giữa hành động và các nguyên tắc của họ. Cần thiết phải nâng cao khả năng tự lực của người lao động thông qua việc bồi dưỡng năng lực cho họ bất cứ khi nào có thể. Các bước đi nhỏ có thể làm nên sự thay đổi lớn. Ví dụ, tạo điều kiện cho người sản xuất tham gia vào quá trình ra quyết định, thiết kế sản phẩm, sáng tạo những ý tưởng mới để phát triển thị trường, và thúc đẩy tinh thần của toàn bộ cộng đồng người lao động. Đây là vài cách thức giúp nâng cao khả năng tự lực của người lao động và chia sẻ các nguyên tắc của Fair Trade với họ.


Theo như những tìm hiểu gần đây nhất, tôi thấy rằng vấn đề lớn nhất mà một tổ chức Fair Trade được thành lập và được điều hành bởi các tổ chức bên ngoài phải đối mặt lại chính là những người điều hành phương Tây hoặc những người điều hành kiểu phương Tây của họ. Với những người phương Tây sống ở nước ngoài và đang giữ vị trí lãnh đạo thì quá dễ dàng để họ đưa ra các quyết định nhanh chóng mà không cần có sự tham gia của người sản xuất; thiết kế các sản phẩm bày ở trên kệ hay ở phòng trưng bày; đưa ra các chính sách mà không truyền đạt chúng tới người lao động. Cuối cùng, đấy chính là cách thức hoạt động của các công ty lớn kết hợp với cách thức hoạt động của các tổ chức NGO, mặc dù phương châm của họ là nhấn mạnh vào các cách tiếp cận để lôi kéo sự tham gia của người sản xuất. Nếu họ không cẩn thận, cuối cùng họ lại bỏ sót mục tiêu cơ bản là nâng cao khả năng tự lực một cách không chủ ý.

Lần phỏng vấn gần đây của tôi là với một tổ chức được thành lập bởi những người phương Tây, có mục tiêu là loại bỏ nghèo đói thông qua dự án tạo cơ hội thu nhập cho cộng đồng người khuyết tật. Trước khi nói đến hoạt động, điều quan trọng là phải xét đến bối cảnh lịch sử ở địa phương cũng như động cơ tốt đẹp khi thành lập tổ chức này.

Dư âm của chiến tranh, tình trạng bị nô dịch vào một hệ tư tưởng lệch lạc, nạn đói tràn lan và sự tàn sát thường dân ở mức diệt chủng trong hơn 3 năm trong khi thế giới nhắm mắt làm ngơ đã để lại vết thương không phai mờ đối với người dân Campuchia. Tiếp theo đó là trò chơi hai mặt của cộng đồng quốc tế khi cho Pol Pot một ghế ngồi ở Liên Hợp Quốc trong khi đất nước này đang phải oằn mình để hàn gắn. Ảnh hưởng của những sự kiện này vẫn còn tồn tại một cách sâu sắc trong các câu chuyện kể hàng ngày của người dân Campuchia, gắn bó chặt chẽ với nỗi thấm thía chung của cả dân tộc. Sự phản bội, sự ngờ vực, và sự tàn bào vẫn còn hiện hữu trong ký ức của người dân.

Bất cứ khách du lịch nào tới Phnom Penh đều sẽ nhận thấy ngay cảnh nghèo đói khốc liệt với số lượng lớn người ăn xin lang thang trên đường phố, bị tàn phế hoặc dị dạng, dấu tích của chiến tranh và bệnh dịch đã tàn phá đất nước. Đau đớn, bị phân biệt đối xử, bất bình đẳng, thiếu cơ hội là những đặc trưng của đất nước tới tận ngày nay, dù đã 32 năm sau khi được tự do. Và điều này vẫn hiển hiện mặc dù có dòng vốn viện trợ hàng tỉ và hàng tỉ đô la chảy vào. Đây là một trường hợp điển hình về sự thất bại hoàn toàn của viện trợ phát triển, nhưng mà tôi sẽ để bài tập này lại cho các nhà phân tích suông được trả lương quá hậu hĩnh, sống xa rời thực tế và chỉ biết la ó vào một sự thất bại rành rành.

Xét trong bối cảnh này thì thấy rõ ràng rằng chỉ đơn giản có một công việc đã là một cơ hội to lớn rồi. Nhưng tôi phải tự hỏi: chẳng nhẽ chỉ có vậy thôi sao? Chẳng nhẽ Fair Trade chỉ là cung cấp một cơ hội thu nhập giữa sự tuyệt vọng của cả một quốc gia? Thế còn các mục tiêu cao đẹp khác của Fair Trade thì sao? Chẳng hạn như nâng cao khả năng tự lực của người lao động và hòa nhập những người bị mất quyền công dân thông qua hình thức thương mại được thiết kế để loại bỏ đói nghèo, đẩy mạnh sự minh bạch và công khai, khuyến khích bình đẳng giới, và bảo vệ môi trường?

Trong một bài viết trước đây, tôi đã nói rằng:

Từ thiện là điều tốt,
Được nâng cao khả năng tự lực là quyền con người.

Trong quá trình phỏng vấn, tôi nhận thấy một điều lặp đi lặp lại mà lúc đầu tôi cố gắng miễn cưỡng thừa nhận, nhưng rồi thật là buồn vì sau đó nó càng trở nên rõ ràng hơn. Nói khái quát nhất về điều mà tôi nhận thấy, đó chính là sự thiếu hiểu biết toàn diện về các nguyên tắc của Fair Trade ở tất cả các vị trí trong tổ chức, từ người sản xuất tới người quản lý, và người sản xuất không hề có cơ hội được nâng cao năng lực. Như Rodney đã chỉ ra, không hiểu biết về các nguyên tắc của Fair Trade ở mức chi tiết không phải là một điều gì lạ lẫm đối với nhóm người sản xuất, nhưng đối với người quản lý và những người làm việc trực tiếp với chuỗi cung ứng, việc hoàn toàn không biết gì về Fair Trade là một điều không chấp nhận được. Khi tôi đề cập tới các nội dung đặc thù hơn thì điều này càng trở nên hiển nhiên và rõ nét hơn.


Tôi sẽ không nói sâu vào các kết quả nghiên cứu, mà chỉ nói rằng đang có những nơi rất cần phải có sự đổi mới nhằm đạt được các tiêu chuẩn của Fair Trade. Cùng lúc đó, tôi có trách nhiệm phải làm một cái gì đó với những điều mình vừa tìm ra. Tôi hiểu rằng những điều tôi viết có thể gây thiệt hại tới một tổ chức Fair Trade, nên tôi phải cân nhắc nên làm như thế nào…

Tôi tham khảo ý kiến của một người lãnh đạo ủng hộ Fair Trade, ông Jeff Goldman thuộc Mạng lưới Tài nguyên Fair Trade (Fair Trade Resource Network). Ông nói: “Là một người đào tạo ủng hộ hoạt động của Fair Trade, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng cần phải rút ra bài học từ các thất bại… Tôi quan sát thấy rằng Fair Trade thường bị sa sút từ những lăng kính màu hồng mà chẳng giúp gì được cho người sản xuất khi nó che đậy các nhu cầu và các biện pháp thiết thực của Fair Trade. Sự thực sẽ giải phóng tất cả chúng ta…” Do vậy, ông đã khuyên tôi hãy tìm kiếm một “cách thức suy diễn, không mang tính chính trị" để chia sẻ các kinh nghiệm đó của tôi. Jeff hoàn toàn đúng khi đề xuất một cơ hội học hỏi tích cực. Hơn nữa, tôi nợ điều đó đối với những người thợ thủ công đã sẵn sàng chia sẻ các câu chuyện của họ với tôi. Và tình huống còn tồi tệ hơn, tổ chức này đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm giảm đơn đặt hàng từ các nước phương Tây.

Nói như vậy, tôi không thể công bố những nghiên cứu của mình một cách trực tiếp, nhưng tôi muốn giúp đỡ để đưa ra trường hợp của họ.

Thật không may, đối tác thương mại chính của họ lại là một tổ chức đi đầu trong Phong trào Fair TradeMỹ, rất nổi tiếng bởi cách thức làm việc rất gần gũi với các nhà sản xuất. Thực tế trong quá trình làm việc, tôi đã tận mắt thấy những minh chứng cho điều này. Chẳng hạn như câu chuyện về chiếc máy sấy gỗ mà tổ chức này đã được họ tài trợ để đảm bảo cho các sản phẩm gỗ của họ không bị cong vênh và méo mó. Thật vui vì trực tiếp được nhìn thấy những hỗ trợ thiết thực như vậy. Đây là dấu hiệu các tổ chức Fair Trade phương Tây mong muốn có lợi ích từ đối tác thương mại của họ và điều này mang lại hy vọng cho tôi !

Đứng bên ngoài một tổ chức phi lợi nhuận, trên tay cầm bản ghi chép phỏng vấn, tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải công bố những nghiên cứu của tôi cho tổ chức Fair Trade phương Tây để họ có thể sử dụng các kết quả này hỗ trợ cho đối tác của họ. Nói một cách đơn giản, cần phải tiến hành xây dựng năng lực trong tổ chức Fair Trade nhằm khắc phục những tồn tại hiện thời. Tôi đã viết một báo cáo chi tiết về những phát hiện của mình, trong đó tôi có nói: “Nguyên tắc thứ tám, liên quan tới xây dựng năng lực, các tổ chức mua các sản phẩm Fair Trade thông qua các tổ chức Fair Trade trung gian ở các nước đang phát triển phải hỗ trợ các tổ chức này phát triển năng lực nhằm hỗ trợ cho các nhóm sản xuất bị thệt thòi mà họ làm việc cùng.”

Để vận động các đối tác thương mại liên quan, tôi đã gặp gỡ trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị và một người tư vấn trẻ tuổi. Họ đều tiếp nhận những chia sẻ của tôi và các cuộc nói chuyện sau đó khiến tôi cảm thấy không tin tưởng lắm rằng sẽ có một sự thay đổi nào đó trong tương lai. Quan trọng hơn cả, họ đều quan tâm tới sự sống còn trước mắt của tổ chức này. Trong cuộc gặp mặt, tôi đã nhấn mạnh tới mối quan tâm của tôi là bối cảnh Fair Trade và nhìn nhận tình trạng tài chính eo hẹp của tổ chức đó. Họ cũng rất lo lắng về các hậu quả và các mối ràng buộc trong tình huống hiện thời nếu như sự việc không được thay đổi. Tuy nhiên, khả năng giúp đỡ của họ rất hạn chế bởi vì nguồn vốn để tài trợ rất eo hẹp, và tương lai của tổ chức Fair Trade là một câu hỏi lớn bởi vì thực trạng tài chính mới là mối quan tâm chính.

Trong bản báo cáo, tôi đã bày tỏ rằng các vấn đề mà tôi tìm ra chủ yếu là các vấn đề nội bộ, không phải để công bố ra công chúng vào thời điểm mà tổ chức này đang đối mặt với các vấn đề sống còn. Đó chính là lý do mà tôi không nêu tên của tổ chức Fair Trade này. Tôi cũng không nhắc tới tên của đối tác thương mại và các tổ chức tư vấn làm việc với tổ chức Fair Trade này. Như Jeff đã nói, sự thật sẽ giải phóng chúng ta.

Với suy nghĩ như vậy, tôi đã kết luận trong bản báo cáo như sau:

“Khi công bố các nghiên cứu của tôi trên blog hay trên phương tiện truyền thông khác… tôi sẽ giữ lại các kết quả nghiên cứu này và sẽ trở lại… vào một thời điểm xác định để theo dõi sự triển khai các nguyên tắc Fair Trade ở đây. Tôi coi đây như là một vấn đề nội bộ mà tôi tình cờ gặp trong chuyến đi của mình, và sẽ như vậy cho đến khi vấn đề được giải quyết.

Cảm ơn các bạn đã dành thời gian theo dõi đề tài này. Tôi tin tưởng rằng khi mà nền kinh tế toàn cầu được phục hồi lại, điều cực kỳ quan trọng là phải duy trì các nguyên tắc của Fair Trade.”

Mặc dù bài viết này có thể sắp kết thúc,
Những nghiên cứu này của tôi sẽ không kết thúc ở đây.

Khi tôi nói chuyện trực tiếp với đối tác Fair Trade chính tới từ phương Tây đã giúp đỡ tổ chức này rất nhiều trong những năm qua thông qua thương mại, mặc dù các mục tiêu rất tốt đẹp, những người quản lý người nước ngoài và người bản địa kế tiếp nhau đã bỏ qua việc xây dựng năng lực cho người sản xuất và việc điều hành hiện thời. Điều này có thể được khắc phục. Trong bản báo cáo của tôi, tôi đã nhiều lần chỉ ra: “Ở đây không ai được nâng cao khả năng tự lực.” Nếu ngày mai tổ chức này phải đóng cửa, những người khuyết tật kia vốn là đối tác thương mại lâu năm của các bạn, họ sẽ phải trở về làng và cuộc sống của họ sẽ quay trở lại giống như trước khi họ tới đây làm việc. Cuộc sống của họ sẽ trở lại tình trạng người khuyết tật phải đối mặt với sự đói nghèo hiển hiện. Như vậy, cái ngày mà tổ chức bị đóng cửa, người lao động có thể treo một tấm biển trước cửa nói rằng: “Chúng tôi chưa bao giờ ở đây”, bởi vì điều duy nhất Fair Trade đã làm là cung cấp cho họ một cơ hội thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định. Với tư cách là một tổ chức Fair Trade tới từ phương Tây, tôi hy vọng các bạn có thể hỗ trợ một khoản tiền để xây dựng năng lực cho đối tác thương mại của mình, nhưng cũng cần biết rằng hành động của các bạn đóng vai trò trung tâm - là một người nghiên cứu độc lập, tôi sẽ quay trở lại thăm nhóm sản xuất này trong tương lai để đánh giá xem đã có những thay đổi gì diễn ra với họ.

Hiểu rằng mục tiêu quan trọng của Fair Trade là tập trung vào các mối quan hệ thương mại lâu dài với các nhóm sản xuất nhỏ, tôi mong sớm trở lại để chứng kiến việc các bạn đã triệt để áp dụng nguyên tắc thứ 8: Các tổ chức làm việc trực tiếp với các nhà sản xuất nhỏ cố gắng triển khai các hoạt động đặc biệt để giúp đỡ những nhà sản xuất nhỏ này nâng cao kỹ năng quản lí, năng lực sản xuất và tiếp cận với các thị trường địa phương / vùng / quốc tế / Fair Trade phù hợp. Các tổ chức mua các sản phẩm Fair Trade thông qua các tổ chức Fair Trade trung gian giúp đỡ các tổ chức này phát triển năng lực của họ nhằm hỗ trợ cho các nhóm sản xuất nhỏ mà họ trực tiếp làm việc cùng.

Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng chúng tôi trong chuyến đi này. Các bạn hãy theo dõi blog, và xin hãy tự nhiên đóng góp ý kiến, ý tưởng và các lời khuyên cho chúng tôi.

Thân ái,
Mitch Teberg, MA