Khi dòng tiền chảy vào túi những người nông dân có mức sống chỉ vừa đủ sống, họ sẽ dùng nguồn thu nhập mới này để mua cái gì? Thôi, ông ấy không hề biết và cũng chẳng quan tâm đâu. Những người nông dân có mức sống chỉ vừa đủ sống này, đơn giản là họ cần tiền để mua hàng hóa ở chợ, chỉ vậy thôi. Đó là cách nghĩ của trường đại học mà ông ấy đã tốt nghiệp, trường đại học kinh tế vốn không quan tâm tới tình trạng văn hóa xã hội ở địa phương cũng như thiếu vắng hẳn yếu tố nhân văn.
Cũng như với Chuyên gia Phát triển, cách tốt nhất để phô ra yếu điểm là chúng ta đặt ra các câu hỏi liên quan ở mức nhận thức của họ mà thôi.
Các dạng câu hỏi tương tự cũng được đặt ra với Fair Trade. Trong chuyến khảo sát của tôi ở vùng núi phía Bắc của Philippine, tôi đã suy nghĩ về việc phát triển các thị trường ở địa phương với các sản phẩm do địa phương sản xuất theo cách có lợi cả về văn hóa và xã hội. Tôi không ngừng tự hỏi: “Làm cách nào để Fair Trade được hòa nhập nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng ở địa phương nhiều hơn là thông qua thương mại với các nước phương Tây?”
Nói một cách vắn tắt và đơn giản nhất, tôi tự hỏi: “Làm cách nào để có thể địa phương hóa Fair Trade?”
Basil và Vie Reyes cũng đã từng đưa ra câu hỏi này. Họ là sáng lập viên của Bote Central và khởi đầu một thương hiệu cà phê Philippine, Coffee Alamid. Với những nỗ lực của họ, họ đang biến Fair Trade thành một khái niệm địa phương trên khắp đất nước Philippine, nhưng không phải bằng cách thức truyền thống. Câu hỏi cơ bản của họ thậm chí còn hướng trực tiếp hơn vào bối cảnh địa phương: “Làm thế nào để sản xuất cà phê bền vững?”
Vie kể cho tôi một chút về lịch sử: “Philippine từng là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ tư trên thế giới. Sau đó rất nhiều nước cùng nhảy vào và cà phê Philippine đã bị loại ra. Nông dân Philippine bắt đầu cắt bỏ cây cà phê bởi vì giá bán quá thấp. Bây giờ chúng tôi lại phải nhập khẩu cà phê. Nông dân không thích trồng cà phê, mà thích trồng rau và các giống hoa màu khác. Do vậy lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng nông dân cần giúp đỡ để trồng cà phê. Nhưng chúng tôi đã nhầm. Nó không mang lại sự bền vững.”
Với mong muốn chân thành làm giảm đói nghèo ở những vùng nông thôn, họ đã tạo ra sự hứng thú mới làm sống lại cây cà phê vốn đã bị bỏ hoang tại một số cộng đồng nhất định. Chỉ mất 3 năm để một cây cà phê bắt đầu ra quả, do vậy những cây bị bỏ hoang từ thời hoàng kim của cà phê Philippine rất cần phải được khôi phục lại một lần nữa như là một nguồn tài nguyên trực tiếp sẵn có. Nhưng chỉ đơn thuần bán hạt cà phê ở trên thị trường sẽ không mang lại nhiều hiệu quả trong việc loại bỏ đói nghèo.
Đây là giải pháp mà một người ủng hộ Fair Trade sẽ mỉm cười và nghĩ về bản thân mình: “Phát triển cộng đồng thông qua việc thành lập một HTX Fair Trade!” Đúng vậy, nhưng Vie và Basil còn đi xa hơn nữa. Phải thừa nhận rằng cách tiếp cận của họ thật là độc đáo và đáng nhớ, họ không mảy may quan tâm tới các thị trường quốc tế hay nhãn hiệu Fair Trade.
Vie giải thích: “Chúng tôi không dùng tới Fair Trade hay mạng lưới Fair Trade, chưa thôi. Đây không phải là cách làm việc cần thiết của chúng tôi với những người sản xuất bởi vì chúng quá phức tạp đối với họ. Ở đây chỉ có một vài người trồng cà phê hiểu được Fair Trade thôi.” Thay vì tập trung vào các nguyên tắc của Fair Trade một cách lý thuyết, họ muốn phát triển các thị trường địa phương với sự phản ánh của Fair Trade trong hành động hơn là lời nói. Vie nói rằng đây là một quá trình từ từ. Bước đầu tiên là phải xác định và làm việc cùng với một cộng đồng mà sẽ có được lợi ích từ cách thức tiếp cận của họ.
“Điều mà chúng tôi đang làm với các cộng đồng là chúng tôi muốn họ có một chu trình làm việc trọn vẹn. Basil là một nhà sáng chế, vì vậy tôi nói với anh ấy là hãy làm ra một cái máy rang cà phê, để mỗi cộng đồng họ có thể tự rang cà phê của họ. Đây là cách mà người nông dân có thể tự sản xuất cà phê của mình. Do vậy anh ấy đã thiết kế một loại máy sử dụng nguyên lý xoắn, được lập trình sẵn, hoàn toàn tự động, rất dễ dàng sử dụng, và được dùng để rang cà phê. Và điều chúng tôi đã làm là đưa nó tới với người nông dân để họ có thể tự sản xuất cà phê của chính mình. Họ làm nên nhãn hiệu cà phê của riêng họ và bán chúng ở địa phương nơi họ ở, và đơn giản nhất thì họ có thể uống cà phê của mình mà không cần phải đi mua cà phê tan.”
Basil nói thêm vào: “Chúng tôi đưa ra một phương tiện để rang cà phê giúp cho người nông dân có thể tự rang cà phê của họ, bởi vì ở Philippine, các phương tiện rang cà phê thường nằm trong tay các tập đoàn lớn như Nestle. Do đó tôi thiết kế máy rang cà phê cho họ. Đây là cách dễ nhất để giải quyết vấn đề!
Chủ yếu tôi làm các máy rang cà phê để cho người nông dân có thể tăng thêm thu nhập, họ phải làm ra các sản phẩm có giá trị gia tăng. Cách tốt nhất để làm tăng giá trị là tự rang cà phê của mình. Nông dân không cần những loại máy móc mà họ chẳng hiểu gì cả. Họ chỉ bấm nút, cái máy tự động làm tất cả, chỉ vậy thôi. Bạn không thể dạy họ nghệ thuật rang cà phê hay sự tinh thông về rang và sấy. Do vậy tôi thiết kế một loại máy rang hiện đang được sử dụng trên khắp đất nước, đang được chạy kiểm nghiệm, và đồng thời chúng cũng đang kiếm ra tiền. Nông dân có thể tự rang hạt cà phê của họ, chẳng hạn như ở Sagada… Trong một vài trường hợp, chúng tôi điều chỉnh loại máy này từ chạy bằng điện sang chạy bằng gas bởi vì ở vùng nông thôn, điện lưới không được ổn định cho lắm.”
Tại sao đây lại là một cuộc cách mạng và rất đáng được ghi nhớ? Trước hết, hơn 50% cà phê tiêu thụ ở Philippine là cà phê nhập khẩu, và chủ yếu dưới dạng cà phê tan của Nestle. Thật đáng ngạc nhiên, cà phê tan chiếm thị trường khoảng 10 tỷ Pecos một năm (khoảng hơn 226 triệu USD), và nguồn tài chính này chảy vào két bạc của một tập đoàn đa quốc gia không mang lại sự bền vững. Quả là điều đáng buồn khi một tập đoàn đa quốc gia chiếm lĩnh thị trường của bạn và còn làm thay đổi văn hóa cà phê của cả một nền công nghiệp truyền thống vốn rang hạt cà phê một cách từ từ bằng lửa và pha cà phê bằng cách ngâm bột cà phê trong một túi lọc. Chẳng phải nói tập đoàn này cũng ủng hộ các chính sách thương mại tự do quốc tế của GATT và WTO, vốn xóa sạch những người nông dân trồng cà phê trên khắp đất nước bằng cách cạnh tranh sản xuất cà phê rẻ nhất từng có tại các nước nghèo nhất trong các nước nghèo. Trong cuộc đua giảm giá tới đáy, người Philippine đã đánh mất vị trí của mình trong những năm 80.
Gia đình Reyes đối mặt với cuộc chiến trên ba mặt trận, thứ nhất là khuyến khích ngành công nghiệp trồng cà phê; thứ hai là giành lại định nghĩa về cà phê từ các tập đoàn đa quốc gia; thứ ba la giới thiệu về Fair Trade ở các thị trường địa phương. Nó bao gồm cả việc tạo ra ý thức về quyền sở hữu của người nông dân đối với sản phẩm của họ và việc thuyết phục các cộng đồng tiêu thụ sản phẩm của chính họ.
“Do vậy, chúng tôi đang đẩy mạnh Fair Trade ở thị trường Philippine tới người dân. Khi chúng tôi nghĩ về xuất khẩu, chúng tôi cho rằng thị trường nội địa tốt hơn… chúng tôi đang cố gắng quảng bá Fair Trade: Hãy uống cà phê Philippine. Đó là điểm khởi đầu của tôi. Vấn đề là người dân ở đây không quen với cà phê của chúng tôi. Họ muốn uống cà phê nhập khẩu vì họ cho rằng chúng ngon hơn. Chúng tôi đang cố gắng thay đổi viễn cảnh của cà phê Philippine. Làm cách mạng. Đây là cách mà chúng tôi quảng bá Fair Trade. Không cần thiết phải nói về Fair Trade, đó là việc của các tổ chức Fair Trade… Chúng tôi chỉ áp dụng tinh thần của Fair Trade. Chúng tôi muốn thị trường hiểu Fair Trade là cái gì, thị trường nội địa. Không cần phải nói Fair Trade, Fair Trade, Fair Trade, mà là hành động. Là tính chất bên trong của Fair Trade. Đó là cách chúng tôi đang hoạt động, không phải là một công việc đao to búa lớn. Nếu bạn giải thích cho họ về Fair Trade, họ sẽ chẳng hiểu gì đâu. Các nguyên tắc của Fair Trade chỉ là lời nói. Còn có những thứ khác cho những người sống ở miền núi để họ sống một cuộc sống tốt đẹp hơn nếu cho họ một phương tiện sinh sống và kế sinh nhai.”
Để triển khai tinh thần này của Fair Trade, cặp đôi Reyes nói về việc xây dựng các mối quan hệ và thời kỳ tạo dựng quan hệ trong đó họ giới thiệu về các nguyên tắc của Fair Trade một cách hết sức từ từ.
Theo như những gì tôi hiểu về Basil và Vie, đây sẽ lại là một cách làm hết sức lôi cuốn. Tôi đã học được rất nhiều điều, nhưng lắng nghe một người kể chuyện chân thật như Basil quả là một kinh nghiệm tuyệt vời. Tôi bảo ảnh kể cho tôi nghe về quá trình đó và anh mở lời: “Rất dễ dàng để trở thành một thương gia. Nhưng để xây dựng một tình bạn thì khó hơn nhiều. Tôi thích có nhiều bạn ở vùng núi, nhưng đó là một câu chuyện khác. Mỗi khi lên núi, tôi thường ở lại đó 2 đến 3 ngày. Đôi khi tôi tới đó chỉ để nghỉ ngơi. Anh biết đấy, không làm việc, chỉ dành thời gian với mọi người ở đó thôi, hưởng thụ không khí trong lành thay vì sự hối hả và ồn ào của thành thị. Tôi rất dễ hòa đồng với họ.
Phải mất từ 2 tới 3 năm để phá bỏ ngăn cách xã hội. Tôi trở thành một phần của cộng đồng, mức độ tin tưởng và mức độ tự tin đã đủ để trở thành bạn bè. Đầu tiên họ nghĩ rằng tôi cũng giống như những người mua khác cho đến khi tôi trở thành bạn của họ, sau đó thì mọi thứ thay đổi.
Như vậy những người này cần một khoảng thời gian để họ mở lòng. Chúng tôi đang thiết lập mối quan hệ, và đối với những người này thì cần nhiều thời gian hơn, không giống như trong kinh doanh, chỉ cần cho tôi xem tiền và hàng hóa của anh. Ở đây chúng tôi có mối quan hệ tốt đẹp. Chúng tôi không làm hợp đồng. Chúng tôi nhìn vào mắt họ, bắt tay họ, và hy vọng vào điều tốt đẹp nhất. Điều này dựa trên niềm tin và sự liêm chính, đó chính là giá trị của Fair Trade.
Điều quan trọng nhất là mối quan hệ. Đó là ý tưởng, để sản xuất cà phê bền vững.”
Với tôi, thành công gồm có 2 mặt. Thứ nhất, tôi có thêm bạn hữu, và thứ hai tôi có thể mua hàng bất cứ lúc nào. Tôi thích leo núi và đó cũng là một động lực ích kỷ cá nhân của tôi. Tôi thích không gian mở ngoài trời. Tôi có thể đến những nơi mà người khác không thể bởi vì bạn tôi ở đó. Ở những chỗ đó có hang động và thác nước. Tôi thích tất cả những điều này.
Khi tôi còn trẻ, tôi thường đi leo núi và tận hưởng thiên nhiên. Có lẽ mọi thứ bắt đầu từ đó. Tôi đã kết bạn với người bản địa. Đó là nơi duy nhất bạn tới mà người dân nghèo nàn, bẩn thỉu, chẳng có tiền ngoài vài thứ lặt vặt trong căn lều. Họ đun nước sôi cho tôi uống, rồi đào đường mà họ đựng trong một cái can và chôn xuống đất để khỏi bị lấy trộm, sau đó chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Đó là lý do mà tôi thích lên núi.
Basil dẫn chứng một vài thí dụ về các mối quan hệ mà anh đã xây dựng trên khắp đất nước và những lợi ích mà anh có được. “Sagada là nơi cà phê đắt nhất Philippine bởi vì mọi người đều tự rang cà phê của mình, bạn không thể mua hạt cà phê xanh ở đó. Họ sẽ không chịu bán đâu bởi vì họ kiếm được nhiều tiền hơn bằng việc tự rang cà phê. Nhưng tôi thì mua được hạt cà phê bởi vì tôi chính là người đã khởi đầu mọi thứ ở đó. Tôi đã kết bạn và xây dựng các mối quan hệ.
Ở Lagawe (thị trấn gần cạnh Sagada), có một HTX có nhãn hiệu cà phê của riêng họ và họ cũng có máy rang cà phê. Họ tự điều hành hoạt động kinh doanh. Ý tưởng ở đây là sẽ có một cộng đồng Starbucks nhỏ. Chúng ta có thể nhìn thấy những dấu hiệu thành công, một chút thành công.
Ở Sagada bạn sẽ thấy ít cà phê tan ở trong các cửa hàng hơn, và nhiều cà phê pha hơn, chủ yếu là nhãn hiệu cà phê của chính họ. Nếu bạn tới đó, bạn không thể mua hạt cà phê xanh bởi vì họ kiếm được nhiều tiền hơn bằng việc bán sản phẩm hoàn thiện. Nông dân kiếm tiền ở thị trường nội địa nhiều hơn là họ xuất khẩu hạt cà phê thô.
Ở Jolo ở miền Nam thì hơi nguy hiểm. Tôi cá là anh đã từng nghe về chủ nghĩa cực đoan ở đó. Nơi đây nông dân tổ chức thành nhóm, họ thiết lập các phương tiện sản xuất, họ yêu cầu được giúp đỡ và họ trả tiền cho máy rang cà phê. Bây giờ họ đang điều hành doanh nghiệp của mình và họ còn đang muốn mua thêm một máy rang cà phê nữa. Trong những vùng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, họ vẫn có niềm hy vọng dành cho phụ nữ và trẻ em. Họ không chỉ trao đổi súng đạn và vũ khí, mà họ còn mua bán cà phê. Chúng tôi đang khởi đầu một phong trào hòa bình thông qua cà phê.
Vie kết luận một cách cô đọng: “Khi chúng tôi làm việc với người trồng cà phê, chúng tôi dạy họ cách làm ra sản phẩm cuối cùng và bán cho cộng đồng ở địa phương. Chi phí đầu tư sẽ được trả lại dần dần cho chúng tôi. Chúng tôi có một hệ thống mà các cộng đồng hay những người sản xuất đều phải công khai minh bạch, nếu không thì họ chẳng cẩn thận, họ không nhìn nhận vấn đề như là một công cụ của chính họ. Tạo ra ý thức về quyền sở hữu, tính công khai minh bạch là cách thức để vận hành một công việc kinh doanh.”
Gặp gỡ với Vie và Basil thật là hữu ích vì họ đã cung cấp rất nhiều thông tin, và tôi phải tự tìm hiểu thêm thực tế! Tôi quyết định đi tới vùng núi cao để thăm HTX ở Lagawe và cửa hàng cà phê của chính họ, và tận mắt nhìn thấy máy rang cà phê ở Sagada. Những nghiên cứu của tôi sẽ được công bố trong tương lai không xa, nhưng tôi xin đảm bảo rằng cà phê ở đây ngon tuyệt!
Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng tôi trong cuộc hành trình này. Xin hãy tự nhiên đóng góp ý kiến, ý tưởng và các lời khuyên cho chúng tôi!
Thân ái,
Mitch Teberg, MA


chào bạn ! tôi là người hàn mà muốn nghiên cứu về fairtrade tại việt năm
ReplyDeletebạn có thẻ giúp tôi để hiểu hơn về đó và tư vấn được kg? tôi sống ở hanoi , adriankim00@gmail.com nếu được liên lạc với tôi qua email được kg? muốn học và muốn trao đổi về thương mai công bằng